Phòng chống dịch bạch hầu

Tình hình dịch bệnh bạch hầu trên địa bàn Tỉnh Kon Tum tiếp tục diễn biến phức tạp, tính đến ngày 7/7/2020, toàn tỉnh có 16 ca dương tính với vi rút bạch hầu. Trong đó, có 9 ca người lành mang trùng. Các địa phương có số ca dương tính với vi rút bạch hầu là huyện Đắk Tô 5 trường hợp, Sa Thầy 11 trường hợp. Hiện tất cả các ca dương tính với vi rút bạch hầu đang được cách ly và điều trị tại TTYT Huyện Sa Thầy và TTYT Đăk Tô.

1. Bạch hầu là gì? Là một bệnh truyền nhiễm cấp tính gây tổn thương chủ yếu ở vòm hầu, họng, mũi, thanh quản, ở da và các vùng niêm mạc khác…

Bệnh bạch hầu xảy ra ở mọi lứa tuổi và sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng nếu không được điều trị kịp thời. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường xảy ra ở những trẻ chưa được tiêm chủng. Bệnh thường gặp vào mùa lạnh.

2. Đường lây: Bệnh bạch hầu có thể lây truyền cao từ người mắc bệnh sang người khác thông qua đường hô hấp ( hắt hơi, ho) và tiếp xúc trực tiếp. Bệnh có thể gây nhiễm trùng mũi, họng dẫn tới tử vong.

3. Triệu chứng của bệnh bạch hầu:

- Sốt nhẹ, đau đầu.

- Viêm họng giống như viêm amidan, dẫn tới khó thở.

- Đau họng dẫn tới chán ăn.

- Ho, giọng nói khàn, sổ mũi, hơi thở hôi.

- Da trở nên xạm đen, hay hồi hộp, lo lắng, đánh trống ngực.

- Sau khi thấy triệu trứng trên khoảng 2-3 ngày, ở trong họng, thanh quản, mũi xuất hiện màng giả có màu trắng ngà. Màng giả bạch hầu này dai, dính và khi bóc màng giả sẽ gây chảy máu. Khi đó, màng giả có thể có màu xám hoặc đen.

Bệnh nhân bạch hầu có thể qua khỏi hoặc trở nên trầm trọng và tử vong trong vòng 6 – 10 ngày. Triệu chứng của bệnh nặng không sốt cao nhưng có thể sưng cổ khiến đường thở bị tắt nghẽn.

4. Các biến chứng thường gặp của bệnh bạch hầu: 

Biến chứng tim mạchViêm cơ tim do nhiễm độc là biến chứng thường gặp của bệnh bạch hầu và thường xảy ra vào ngày thứ hai đến ngày thứ bảy sau khi mắc bệnh. 

Biến chứng thần kinh: Bao gồm liệt cục bộ các dây thần kinh sọ (số 4, số 10), xuất hiện sớm nhất vào ngày thứ 5, có thể kèm nhìn mờ, khó nuốt... Bệnh nhân có thể xuất hiện suy tim và trụy mạch do thoái hóa các trung tâm vận mạch và liệt lớp cơ động mạch vào tuần lễ thứ hai hoặc thứ 3 sau phát bệnh.

Biến chứng viêm dây thần kinh ngoại biên: Đây là biến chứng muộn có khi xảy ra 12 tuần sau khi bị bệnh. Bệnh nhân có thể bị liệt hoặc bị tổn thương dây thần kinh hoành.

5. Cách phòng bệnh bạch hầu

          Để chủ động phòng chống bệnh bạch hầu, Cục Y tế dự phòng khuyến cáo người dân cần thực hiện tốt các biện pháp sau:

          (1) Tiêm vắc xin là biện pháp duy nhất chủ động ngừa bệnh bạch hầu, Đưa trẻ đi tiêm chủng vắc xin phối hợp phòng bệnh bạch hầu: Quinvaxem hoặc DTP, ... đầy đủ, đúng lịch. Ở người trưởng thành, có thể tiêm vắc xin nhắc lại 10 năm/1 lần.

          *Liên hệ với cơ sở y tế để được hướng dẫn và tiêm vắc xin phòng bệnh.

(2) Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng; che miệng khi ho hoặc hắt hơi; giữ vệ sinh thân thể, mũi, họng hàng ngày; hạn chế tiếp xúc với người mắc bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh.

(3) Đảm bảo nhà ở, lớp học thông thoáng, sạch sẽ và có đủ ánh sáng.

(4) Khi có dấu hiệu mắc bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh bạch hầu phải được cách ly và đưa đến cơ sở y tế để được khám, điều trị kịp thời.

(5) Người dân trong ổ dịch cần chấp hành nghiêm túc việc uống thuốc phòng và tiêm vắc xin phòng bệnh theo chỉ định và yêu cầu của cơ quan y tế.

 * Trên đây là những điều cần biết về bệnh bạch hầu. Hy vọng sẽ đem lại những kiến thức bổ ích và thiết thực giúp các bậc Cha mẹ học sinh, quý Thầy Cô giáo và các em học sinh hiểu biết và có cách phòng tránh bệnh này.    

                                                                                                                                                                                                                                                     Nhân Viên y tế

                                                                                                Lê Thị Quyên